Soạn bài chi tiết: Nghĩa của từ. Giải thích Nghĩa của từ là gì?

Vấn đề về nghĩa của từ đối với một ngôn ngữ đa dạng, phong phú như tiếng Việt rất đáng lưu tâm. Đối với các bạn học sinh, khi cho một từ mà có thể giải thích, hình dung được hình ảnh của từ đó, mô tả lại cho người khác hiểu được thì coi như là đã hiểu nghĩa của từ. Vậy thì nghĩa của từ là gì? Cùng tìm hiểu chi tiết nghĩa của từ thông qua soạn bài tập về nghĩa của từ trong sách giáo khoa Ngữ văn, lớp 6 dưới đây.

Soạn bài chi tiết Nghĩa của từ
Soạn bài chi tiết Nghĩa của từ

Soạn bài nghĩa của từ, trang 35, ngữ văn 6, tập 1

Nghĩa của từ là gì? 

Nghĩa của từ được hiểu là nội dung sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ… mà từ biểu thị. 

Ví dụ:

  • Tổ tiên: Các thế hệ đi trước (cụ kị, cha ông…).
  • Sính lễ: Lễ vật nhà trai đem đến nhà gái để xin cưới.
  • Chứng giám: xem xét và làm chứng.
  • Hoảng hốt: chỉ tình trạng sợ sệt, vội vã, cuống quýt.
  • Lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm.

Những nội dung này liên quan đến các loại từ mà ta giải thích như: nội dung về sự vật là danh từ, nội dung về hoạt động là động từ, nội dung về tính chất là tính từ… Những loại từ này học sinh tiểu học đã được học.

Ngoài các nội dung cơ bản trên, nghĩa của từ còn là nội dung về số lượng (một, hai, ba, bốn…), lượng ít nhiều (các, những, mỗi, chút…), tình cảm (yêu, thích, ghét…), chỉ trỏ để xác định (này, kia, đó, nọ…).

Nhìn chung, nghĩa của từ là cách giải thích từ ngữ làm sao cho người nghe, người đọc có thể hiểu được, hình dung được hình ảnh liên quan đến từ đó.

Ví dụ: Từ “cây”. 

+ nghĩa của từ cây là thực vật.

+ hình ảnh một loại cây, hay một cái cây được hiện ra trong đầu óc người nói.

Nghĩa của từ là gì?
Nghĩa của từ là gì?

Các cách giải thích nghĩa của từ

Có nhiều cách đưa ra nghĩa của từ như đưa ra khái niệm về từ đó, đưa ra từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ và giải nghĩa từng thành tố của từ đối với từ ghép.

Hoặc còn một cách nữa là trỏ vào sự vật biểu thị cho từ đó. Đây là cách thông dụng để hiểu từ đối với những người nước ngoài học từ mới của tiếng bản ngữ.

Trình bày khái niệm mà từ biểu thị

Ấm áp: Cảm giác dễ chịu, không lạnh lẽo.

Bờm: đám lông dài mọc trên cổ, trên gáy một vài giống thú (ngựa, sư tử…).

Quần thần: các quan trong triều (xét trong mối quan hệ với vua).

Học hành: học và luyện tập để có hiểu biết, có kỹ năng.

Học lỏm: nghe hoặc nhìn rồi làm theo, không có người trực tiếp dạy bảo.

Học hỏi: tìm tòi, hỏi han để tiếp thu kiến thức.

Học tập: Học văn hoá có thầy cô, có chương trình, có hướng dẫn.

Giếng: là cái hố được đào sâu xuống lòng đất để lấy nước từ những mạch ngầm chảy ra. Giếng thường có hình tròn, bờ thành xây bằng gạch.

Biếu: đem quà đến tặng người có tuổi hoặc có địa vị cao hơn mình.

Rung rinh: chuyển động qua lại nhẹ nhàng, liên tiếp.

Tập quán: Thói quen của một cộng đồng được hình thành từ lâu đời trong đời sống, được mọi người làm theo.

Nao núng: không vững lòng tin ở mình nữa

Đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa

Ví dụ:

Siêng năng: đồng nghĩa với chăm chỉ, cần cù.

Phu thê: đồng nghĩa với vợ chồng.

Phích nước: đồng nghĩa với âm tích

Cái chén: đồng nghĩa với cái bát, cái đọi. 

Lạc quan: trái nghĩa với bi quan.

Tích cực: trái nghĩa với tiêu cực.

Lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm.

Giải nghĩa từng thành tố

Đối với các từ Hán Việt hoặc từ ghép ta giải nghĩa bằng cách chiết tự nghĩa là phân tích từ thành các thành tố (tiếng) rồi giải nghĩa từng thành tố.

Ví dụ:

Thảo nguyên: (thảo: cỏ, nguyên: vùng đất bằng phẳng) đồng cỏ.

Khán giả: (khán: xem, giả: người) người xem.

Thuỷ cung: (thuỷ: nước, cung: nơi ở của vua chúa) cung điện dưới nước.

Xem thêm bài giảng Nghĩa của từ:

Luyện tập

Bài 1

– Đọc lại một vài chú thích ở sau các văn bản đã học. Cho biết mỗi chú thích giải nghĩa từ theo cách nào?

Lời giải chi tiết:

– hoảng hốt: chỉ tình trạng sợ sệt, vội vã, cuống quýt (giải nghĩa từ bằng từ đồng nghĩa).

– trượng: đơn vị đo bằng thước Trung Quốc (trình bày khái niệm mà từ biểu thị).

– tre đằng ngà: giống tre có lớp cật ngoài trơn, bóng, màu vàng (giải nghĩa bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị).

Bài 2

– Hãy điền các từ học hỏi, học tập, học hành, học lỏm vào chỗ trống trong những câu ở bài tập 2 SGK tr.36 sao cho phù hợp.

Câu hỏi
Câu hỏi

Lời giải chi tiết:

– học tập: học và luyện tập để có hiểu biết, kỹ năng.

– học lỏm: nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

– học hỏi: tìm tòi, hỏi han để học tập.

– học hành: học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

Bài 3

– Điền các từ trung gian, trung niên, trung bình vào chỗ trống ở bài tập 3 cho phù hợp.

Câu hỏi
Câu hỏi

Lời giải chi tiết:

– trung bình: ở vào khoảng giữa trong bậc thang đánh giá, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp.

– trung gian: ở vị trí chuyển tiếp nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật…

– trung niên: đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già.

Bài 4

Giải thích các từ sau theo những cách đã biết:

–  giếng.

–  rung rinh.

–  hèn nhát.

Lời giải chi tiết:

–  giếng: hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, để lấy nước.

–  rung rinh: chuyển động qua lại, nhẹ nhàng, liên tiếp.

–  hèn nhát: thiếu can đảm 

Bài 5

Đọc truyện “Thế thì không mất” trong SGK tr.36 và cho biết giải nghĩa từ mất như nhân vật Nụ có đúng không.

Truyện “Thế thì không mất”. 
Truyện “Thế thì không mất”.

 

Lời giải chi tiết:

–  Mất theo cách giải nghĩa của nhân vật Nụ là “không biết ở đâu”.

–  Mất hiểu theo cách thông thường (như trong cách nói mất cái ví, mất cái ống vôi…) là không còn được sở hữu, không có, không thuộc về mình nữa.

Như vậy, cách giải thích của nhân vật Nụ chiếu theo cách hiểu thông thường là sai. Nhưng trong văn cảnh, cách giải thích đã thể hiện sự thông minh của cái Nụ và được chấp nhận.

Soạn bài từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ, trang 56, 57, ngữ văn 6, tập 1

Soạn bài chi tiết Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Soạn bài chi tiết Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Từ nhiều nghĩa

Từ nhiều nghĩa là từ có 1 nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.

– Một từ nhưng có thể gọi tên nhiều sự vật , hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm (về sự vật, hiện tượng ) có trong thực tế thì từ ấy gọi là từ nhiều nghĩa.

Ví dụ:

Xe đạp: chỉ loại xe người đi, có 2 bánh, dùng sức người đạp cho quay bánh. Đây là nghĩa duy nhất của từ xe đạp. Vậy từ xe đạp là từ chỉ có một nghĩa .

Ví dụ: Với từ “ăn”

– Ăn cơm : cho vào cơ thể thức nuôi sống ( nghĩa gốc).

–  Ăn cưới : Ăn uống nhân dịp cưới.

–  Da ăn nắng : Da hấp thụ ánh nắng cho thấm vào , nhiễm vào.

–  Ăn ảnh : Vẻ đẹp được tôn lên trong ảnh.

– Tàu ăn hàng : Tiếp nhận hàng để chuyên chở.

– Sông ăn ra biển : Lan ra, hướng đến biển.

–  Sơn ăn mặt : Làm huỷ hoại dần từng phần.

….

Như vậy, từ “ăn” là một từ nhiều nghĩa. 

– Nghĩa đen: Mỗi từ bao giờ cũng có một nghĩa chính , nghĩa gốc và còn gọi là nghĩa đen. Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp, gần gũi, quen thuộc, dễ hiểu ; nghĩa đen không hoặc ít phụ thuộc vào văn cảnh.

– Nghĩa bóng: Là nghĩa có sau ( nghĩa chuyển, nghĩa ẩn dụ ), được suy ra từ nghĩa đen. Muốn hiểu nghĩa chính xác của một từ được dùng, phải tìm nghĩa trong văn cảnh.

– Ngoài ra , cũng có một số từ mang tính chất trung gian giữa nghĩa đen và nghĩa bóng, đang chuyển dần từ nghĩa đen sang nghĩa bóng.

Câu 1:(trang 55 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Đọc bài thơ.

Câu 2: (trang 55 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Nghĩa của từ chân theo từ điển:

– Bộ phận dưới cùng của thân người hay động vật dùng để đi và đứng.

–  Phần dưới cùng, phần gốc của một vật.

– Bộ phận của một vật dùng để đỡ vật ấy đứng ngay được trên mặt phẳng.

–  Địa vị, chức vị của một người. 

–  Âm tiết trong câu thơ ở ngôn ngữ phương Tây (theo từ điển tiếng Việt 1991)

Câu 3: (trang 56 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Một số từ khác cũng có nhiều nghĩa như từ chân:

Từ đồng:

– ruộng đồng

– đồng (kim loại)

– nghìn đồng (đơn vị tiền tệ)

– đồng lòng

Từ i: 

– Bộ phận nhô lên ở giữa mặt của người và động vật, chức năng hô hấp

– Phần đất liền nhô ra biển: mũi đất

– Phần nhọn ở đồ vật: mũi dao, mũi kéo, mũi thuyền

Câu 4: (trang 56 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

– Một số từ chỉ có một nghĩa: thận, gan, com-pa, ca-mê-ra…

Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Câu 1: (trang 56 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1)

– Mối liên hệ giữa các nghĩa của từ chân: đều dựa trên nghĩa gốc là bộ phận dưới cùng của thân người hay động vật dùng để đi, đứng.

Câu 2: (trang 56 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1)

– Trong một câu cụ thể, một từ thường được dùng với một nghĩa. Nhưng trong một số văn bản nghệ thuật, từ vẫn có thể được dùng với nhiều nghĩa.

Câu 3: (trang 56 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

– Trong bài thơ, từ chân được dùng với nghĩa chuyển sử dụng đồng thời với nghĩa gốc tạo nên những liên tưởng thú vị.

Luyện tập

Bài 1

Ba từ chỉ cơ thể người: đầu, mũi, tay.

– Đầu: đầu trang sách, đầu đường, đầu cầu, đầu mối, đầu năm, đứng đầu lớp, lần đầu, ngồi đầu bàn, lá cờ đầu…

– Mũi: mũi kim, mũi kéo, mũi dao, mũi Cà Mau, mũi đất, mũi quân…

Tay: tay ghế, tay vịn cầu thang, tay nghề, tay súng giỏi, vào tay giặc, quyền hành trong tay, đàm phán tay ba…

Bài 2

Từ chỉ bộ phận cây cối được chuyển nghĩa để cấu tạo từ chỉ bộ phận cơ thể người:

– Cánh hoa => cánh tay

– Cuống lá => cuống phổi

– Bắp chuối => bắp tay

– Quả quất => quả tim, quả thận

– Lá cam => lá phổi, lá gan

Bài 3

  1. Chỉ sự vật chuyển thành chỉ hành động:

–  cái cày => cày ruộng

– cây viết => viết chữ

– xe kéo => kéo xe

  1. Chỉ hành động chuyển thành chỉ đơn vị:

– nắm cơm => một nắm cơm

– bó củi lại => hai bó củi

– gói bánh => hai gói bánh

Bài 4

  1. Tác giả đoạn trích nêu lên hai nghĩa của từ bụng:

– Nghĩa 1: Bộ phận cơ thể người hoặc động vật chứa ruột, dạ dày.

– Nghĩa 2: Biểu tượng của ý nghĩ sâu kín, không bộc lộ ra, đối với người, với việc nói chung.

  1. Nghĩa của từ bụng trong các trường hợp:

– ấm bụng: nghĩa 1

– tốt bụng: nghĩa 2

– bụng chân: (nghĩa chuyển) phần phình to giữa bàn chân và gối.

Góc độ ngôn ngữ học: Nghĩa của từ là gì?

Trong một từ, chúng ta nhận ra 2 mặt là mặt âm thanh và mặt biểu hiện. Nghĩa của từ thuộc mặt được biểu hiện (nội dung) của từ đó. 

Khái niệm nghĩa (sense) của từ đã được nêu ra từ lâu và cũng đã có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau.

Để trả lời câu hỏi chính “Nghĩa của từ là gì?”, trước hết ta phải trở lại với bản chất tín hiệu của từ. Từ là tín hiệu, nó phải “nói lên”, phải đại diện cho, phải được người sử dụng quy chiếu về một cái gì đó.

Khi một người nghe hoặc nói một từ nào đó, mà anh ta quy chiếu, gắn vào đúng sự vật có tên gọi là từ đó như cả cộng đồng xã hội vẫn gọi. Đồng thời anh ta cũng biết được những đặc trưng cơ bản nhất của sự vật đó, và anh ta sử dụng từ đó trong giao tiếp đúng với các mẹo luật mà ngôn ngữ có từ đó cho phép; ta nói rằng anh ta đã hiểu nghĩa của từ đó.

Ví dụ: Một người Việt hoặc không phải là người Việt, nói hoặc nghe một từ, như CÂY chẳng hạn, mà anh ta có thể:

  • Quy chiếu, gắn được từ “cây”vào mọi cái cây bất kì trong thực tại đời sống.
  • Ít nhiều cũng biết được đại khái như: cây là loài thực vật mà phần thân, lá đã phân biệt rõ, ví dụ như: cây mía, cây tre… 
  • Dùng từ “cây” trong giao tiếp, phát ngôn đúng với quy tắc ngữ pháp tiếng Việt.

Ta nói được rằng: Anh ta hiểu nghĩa của từ CÂY trong tiếng Việt.

Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta đều học bằng cách liên hội từ với những cái mà nó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động, hoặc thuộc tính… mà từ đó làm tên gọi cho nó). Mặt khác, nghĩa của từ cùng được học thông qua hoặc liên quan với vô vàn tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó được sử dụng.

Thuở nhỏ, ta thấy một cái cây bất kì chẳng hạn, ta hỏi đó là cái gì và được trả lời đó là là cái cây. Dần dần, nay với cây này, mai với cây khác, ta liên hội được từ CÂY của tiếng Việt với chúng. Thế rồi, bước tiếp theo nữa, ta dùng được từ “cây” trong các phát ngôn như trồng cây, chặt cây, tưới cây, cây đổ, cây cau, cây hoa… và tiến tới hiểu cây là loài thực vật, có thân, rễ, lá, hoặc hoa, quả… Vậy là ta đã hiểu được nghĩa của từ CÂY.

Nói chung, nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho).

Nghĩa của từ tồn tại ở đâu? 

Bản chất tín hiệu của từ có 2 mặt: mặt hình thức vật chất âm thanh và mặt nội dung ý nghĩa. Hai mặt này gắn bó với nhau như hai mặt của một tờ giấy, nếu không có mặt này thì cũng không có mặt kia. 

Vậy nghĩa của từ tồn tại trong từ. Nói rộng ra là trong hệ thống ngôn ngữ. Nó là cái phần nửa làm cho ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng, trở thành những thực thể vật chất – tinh thần.

Nghĩa của từ không tồn tại trong ý thức, trong bộ óc của con người. Trong ý thức, trong bộ óc trí tuệ của con người chỉ tồn tại sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ không phải là nghĩa của từ.

Từ những điều trên đây, khẳng định rằng những lời trình bày, giải thích trong từ điển, cái mà ta vẫn quen gọi là của từ trong từ điển, thực chất là những lời trình bày tương đối đồng hình với sự hiểu biết của ta về nghĩa của từ mà thôi.

Vậy nên nghĩa của từ tóm lại là cách hiểu, cách giải thích của con người về hiện tượng, sự vật để hiểu và hình dung được sự vật, hiện tượng đó trong văn bản và trong giao tiếp.

Các thành phần trong nghĩa của từ

Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng. Bởi thế nghĩa của từ cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại. Khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa:

– Nghĩa biểu vật

– Nghĩa biểu niệm

Nghĩa biểu vật (denotative meaning). Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động…) mà nó chỉ ra. 

Biểu vật có thể hữu hình hay vô hình có bản chất vật chất hoặc phi vật chất. 

Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thần, thiên đường, địa ngục…

Nghĩa biểu niệm (significative meaning). Là ý nghĩa, ý niệm về một cái gì đó. 

Ví dụ: Giàu có, thành công. 

Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân biệt 2 thành phần nghĩa nữa là:

– Nghĩa ngữ dụng 

– Nghĩa cấu trúc

Nghĩa ngữ dụng (pragmatical meaning), còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ (connotative meaning). Là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói.

Nghĩa cấu trúc (structural meaning). Là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống từ vựng. Cho ta xác định được giá trị của từ, phân biệt từ này với từ khác; còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định được khả năng kết hợp của từ này với từ kia.

Ví dụ:

  • Phân biệt từ: tay và chân.  
  • Sự kết hợp của danh từ với tính từ: Nhà + đẹp

Ví dụ: 

  • “Một con chó chết đang thở gấp”. Câu sai vì:
  • “chó”: động vật…
  • “chết”: mất khả năng trao đổi chất
  • “thở”: hoạt động trao đổi chất.
  • Như vậy, đã chết rồi thì không thở gấp được nữa. Nghĩa của từ cho biết không thể kết hợp hai từ trên với nhau.

Thành phần nào là quan trọng nhất trong nghĩa của từ? 

Đối với từ vựng-ngữ nghĩa học, cái quan trọng nổi lên hàng đầu là nghĩa biểu niệm

Nghĩa của từ ở đây chính là mối liên hệ chỉ xuất, mối liên hệ phản ánh, cho nên nghĩa biểu hiện cũng có thể hiểu là sự phản ánh sự vật-biểu vật (đúng hơn là phản ánh các thuộc tính, các đặc trưng của chúng) trong ý thức con người, được tiến hành bằng từ.

Trọng tâm chú ý phân tích, miêu tả của từ vựng-ngữ nghĩa học là nghĩa biểu niệm chứ không phải là các thành phần khác. Vì vậy, ở đây khi không thật bắt buộc phải xác định rành mạch về mặt thuật ngữ, thì chúng ta sẽ nói đến nghĩa với nội dung được hiểu là nghĩa biểu niệm cho giản tiện.

Phân biệt nghĩa của từ với khái niệm

Cần phân biệt nghĩa của từ với khái niệm. Nghĩa và khái niệm gắn bó với nhau rất mật thiết nhưng chúng không trùng nhau.

Khái niệm là một kết quả của quá trình nhận thức, phản ánh những đặc trưng chung nhất, khái quát nhất và bản chất nhất của sự vật, hiện tượng. Người ta có được khái niệm chủ yếu là nhờ những khám phá, tìm tòi khoa học. Nội dung của một khái niệm có thể rất rộng, rất sâu, tiệm cận tới chân lý khoa học, và có thể được diễn đạt bằng hàng loạt những ý kiến nhận xét. Mặt khác, rõ ràng là không phải khái niệm nào cũng được phản ánh bằng từ mà nó có thể được biểu hiện bằng hơn một từ. Ví dụ: nước cứng là gì, tổ hợp quỹ đạo là gì, mặt gặt đập liên hợp là gì, công nghệ sinh học là gì…

Nghĩa của từ cũng phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của sự vật, hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, nó có thể chưa phải là kết quả của nhận thức đã tiệm cận đến chân lý khoa học. Vì thế, sự vật, hiện tượng nào mà càng ít được nghiên cứu, khám phá thì nhận thức về nó được phản ánh trong nghĩa của từ gọi tên nó càng xa với khái niệm khoa học.

Ngoài ra, không phải từ nào cũng phản ánh khái niệm (các thán từ và các từ công cụ ngữ pháp chẳng hạn) và trong nghĩa của từ còn có thể hàm chứa cả sự đánh giá về mặt này hay mặt khác, có thể chứa cả cảm xúc và thái độ của con người…

Ví dụ: Nước

Khái niệm

+ Khái niệm khoa học về nước là: Hợp chất của ôxi và hiđrô mà trong thành phần của mỗi phân tử nước có hai nguyên tử hiđrô và một nguyên tử ôxi.

+Từ nước có thể được miêu tả dưới dạng từ điển ngắn gọn là: Chất lỏng không màu, không mùi và hầu như không vị, có sẵn trong ao hồ, sông suối…

Nghĩa của từ:

+ Người Việt quy về loại nước mà chả cần chúng đảm bảo thuộc tính lỏng, còn có nước nhiều hay ít, mùi vị thế nào, thậm chí có nước hay không.. điều đó không quan trọng. Chẳng hạn: nước biển, nước mắm, nước xốt, nước dứa, nước ép hoa quả..

phở nước –       đối lập với phở xào.

mỡ nước  –       đối lập với mỡ khổ. 

nước gang –        gang lỏng. 

Ví dụ: Đổ nước gang vào khuôn đúc. 

– Nước dãi, nước bọt, nước mắt, nước giải, nước ối…

Kết luận: Chứng tỏ rằng nghĩa của từ và khái niệm là không đồng nhất.

Với những bài soạn cùng với những vấn đề bàn luận về nghĩa của từ trên cơ sở ngôn ngữ học giúp bạn có cái nhìn từ cơ bản tới nâng cao về nghĩa của từ. Tóm lại rằng: nghĩa của từ cho thấy được sự vận dụng về nghĩa gốc, nghĩa chuyển cũng như sự kết hợp giữa từ này với từ khác. Như vậy trong vấn đề viết câu, học sinh sẽ tạo ra những câu văn hợp nghĩa, chính xác, logic.  

Trả lời