Soạn bài Khi con Tu hú (Tố Hữu) chi tiết và ngắn gọn nhất, kèm mẫu phân tích tác phẩm

Soạn bài Khi con Tu hú của Tố hữu là một yêu cầu buộc bạn phải thực hiện ở chương trình Ngữ Văn lớp 08. Chúng tôi sẽ giúp bạn soạn bài Khi con tu hú một cách cụ thể và chi tiết nhất ở bài viết bên dưới, để bạn dễ dàng và nhanh hơn cho việc học của mình.

Soạn bài Khi con Tu hú đầy đủ nhất

Tác phẩm Khi con tu hú - Tố Hữu
Tác phẩm Khi con tu hú – Tố Hữu

Về tác giả – tác phẩm

Tác giả

Nhà thơ Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ nhỏ Tố Hữu đã học và tập làm thơ. Giác ngộ cách mạng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ và trở thành người lãnh đạo Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế. 

Những bài thơ đầu tiên sáng tác từ những năm 1937 – 1938. 

Tháng 4 – 1939, Ông bị thực dân Pháp bắt và giam giữ ở các nhà lao miền Trung và Tây nguyên. Tháng 3 – 1942, Ông vượt ngục Đăk Glei, tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng 8 – 1945 ở Huế. Sau Cách mạng, Tố Hữu đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và chính quyền (Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng).

Tác phẩm đã xuất bản: Từ ấy (thơ, 1946); Việt Bắc (thơ, 1954); Gió lộng (thơ, 1961); Ra trận (thơ, 1971); Máu và hoa (thơ, 1977); Một tiếng đờn (thơ, 1992); Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973); Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981).

Nhà thơ đã có: Giải nhất Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1954 – 1955 (tập thơ Việt Bắc); Giải thưởng văn học ASEAN (1996); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật (năm 1996).

Tác phẩm

Soan bai khi con tu hu 02

Hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm có lẽ chính là điều làm nên nỗi niềm sâu lắng của tác giả

Khi con tu hú được Tố Hữu viết khi ông đang bị giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế).

Thơ viết trong tù có nhiều loại, thể hiện nhiều tâm trạng khác nhau. Với Nhật kí trong tù, nhà thơ diễn tả nỗi khổ cực của người tù cụ thể:

Bốn tháng cơm không no

Bốn tháng đêm thiếu ngủ

Bốn tháng áo không thay

Bốn tháng không giặt giũ

(Trích Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh)

Cũng có khi nhà thơ vượt lên trên cảnh ngộ tù đày để chủ động đến với thiên nhiên, rèn luyện ý chí. Nhưng phổ biến nhất là những câu thơ diễn tả nỗi khổ tinh thần của người chiến sĩ cách mạng. Sự khao khát được hoạt động, được cống hiến càng lớn, người tù càng cảm thấy bức bối, uất ức khi bị giam hãm giữa bốn bức tường ngột ngạt, chứng kiến thời gian cứ chầm chậm trôi qua trong khi ở bên ngoài, phong trào cách mạng đang sôi sục, với biết bao điều cần phải làm.

Kiến thức cơ bản về tác phẩm Khi con Tu hú

Nội dung cùng ý nghĩa của tác phẩm Khi con tu hú là?
Nội dung cùng ý nghĩa của tác phẩm Khi con tu hú là?

Ý nghĩa nhan đề bài thơ

Nhan đề của bài “Khi con Tu hú” – trạng từ chỉ thời gian nó vẫn chưa đầy đủ nguyên vẹn cho ý nghĩa hay câu văn. Tuy nhiên nhan đề của bài thơ lại là điều đặc biệt nó vừa là một ẩn ý chỉ một thời điểm bừng lên của thiên nhiên, tạo vật, vừa chỉ sự khát khao hoạt động của con người.

Tóm tắt nội dung bài thơ như sau: Khi con tu hú gọi bầy (cũng là khi mùa hè đang đến), người tù cách mạng càng thấy ngột ngạt, cô đơn trong phòng giam chỉ với bốn bức tường chật hẹp, càng khát khao được sống cuộc sống tự do bay bổng ở ngoài kia.

Và tiếng tu hú có tác động mạnh đến tâm hồn của nhà thơ bởi nó là tín hiệu báo những ngày hè rực rỡ đến gần. Nó cũng là biểu tượng của sự bay nhảy tự do.

Nỗi niềm của tác giả trong bài

Trong bài Tâm tư trong tù, Tố Hữu từng viết:

Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!

“Ở ngoài kia” là không gian tự do, nơi người tù được hòa mình trong “tiếng đời lăn náo nức”, tiếng lạc ngựa “rùng chân bên giếng lạnh”, như vẫy gọi, như thúc giục người chiến sĩ xung trận. Còn trong bài Khi con tu hú, tứ thơ lại được sáng tạo theo một hướng khác, có phần kín đáo hơn. Chúng ta đọc thơ ban đầu sẽ chẳng biết tác giả trong ở trong cảnh tù:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần.”

Ở đây không phải tiếng chim đơn độc mà là tiếng chim “gọi bầy”, tiếng chim báo tin vui. Nghe chim tu hú gọi nhau biết rằng “lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”. Tiếng chim gợi lên một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc, hình ảnh:

“Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Tập hợp tất cả những sắc màu, âm thanh của cuộc sống hằng ngày. Màu vàng của ngô, màu hồng của nắng nổi bật trên cái nền xanh của đất trời, quyện với tiếng ve ngân và còn được điểm xuyết thêm bằng hình ảnh “Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Không gian tràn trề nhựa sống, đang vận động, sinh sôi nảy nở từng ngày ngược với sự ngưng đọng của thời gian bên trong cảnh tù túng.

Đặc biệt các sự việc không được miêu tả trong trạng thái bình thường mà chúng được tô đậm, được đẩy lên mức cao nhất có thể. Không phải “hạt bắp vàng” mà là “bắp rây vàng hạt” nắng là “nắng đào” màu sắc lộng lẫy nhất, trời xanh thì “càng rộng càng cao” tầm mắt cứ được mở rộng ra thêm mãi. Tiếng ve không chỉ “ngân” mà còn “dậy” lên, hai tính từ miêu tả âm thanh kết hợp với nhau khiến cho tiếng ve rộn rã khác thường rất nhiều.

Cánh diều sáo cũng không chịu “lững lờ” hay “vi vu” mà “lộn nhào từng không”. Cánh diều như cũng nô nức, vui lây trong không gian lộng lẫy màu sắc và rộn rã âm thanh đó.

Lý giải cho sự khác thường đó bởi tác giả đã không trực tiếp quan sát và miêu tả cảnh vật. Nhà thơ đang bị giam trong tù, những bức tường kín mít vây xung quanh không cho phép nhà thơ nhìn ngắm hay lắng nghe… Tất cả đều được tái hiện từ trí tưởng tượng, trí nhớ và hơn thế nữa là tình yêu, lòng khát khao mãnh liệt được thoát ra ngoài. Trong cảnh tù đày, màu ngô lúa hay màu nắng, màu của trời xanh bỗng trở nên quý giá vô ngần, bởi thế nên những màu sắc, âm thanh hết sức bình thường bỗng trở nên lung linh, huyền ảo, rực rỡ hẳn lên. Đoạn thơ này thể hiện tình yêu sâu sắc của nhà thơ đối với cuộc sống, đối với quê hương.

Hiện thực và tưởng tượng khác nhau

Mộng tưởng với những hình ảnh càng tươi đẹp bao nhiêu thì hiện thực lại càng cay đắng, nghiệt ngã bấy nhiêu.

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Ngột làm sao, chết uất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Khi hướng ra bên ngoài, nhà thơ tả cảnh nhưng khi hướng vào trong lại tả tâm trạng đây chính là sự liên kết vô cùng khéo léo và tinh tế. Mà sợi dây liên kết ấy chính là tiếng chim tu hú. Tiếng chim gọi bầy tha thiết gợi mở một thế giới bao la và vô cùng sinh động. Nhưng thế giới đó càng rộng rãi, rực rỡ bao nhiêu thì lại càng khiến cho người chiến sĩ cách mạng trong cảnh ngục tù cảm thấy ngột ngạt và khao khát bấy nhiêu.

Tiếng chim Tu hú xuất hiện ở đầu và cuối bài ý nghĩa ra sao?

Tiếng chim tu hú ở đầu và cuối của bài thơ đều biểu trưng cho tiếng gọi tha thiết của tự do, của cuộc sống ngoài kia đầy quyến rũ đối với người tù nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú lại rất khác nhau. 

Tiếng tu hú ở đầu bài gợi hình ảnh cuộc sống đầy hương sắc, từ đó gợi ra cái khát khao về cuộc sống tự do. Còn tiếng tu hú ở câu kết lại khiến cho người tù có cảm giác bực bội, đau khổ vì chưa thể thoát ra khỏi cảnh tù đày.

Ý nghĩa của bài thơ

Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm xúc thiết tha, sâu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản

Soạn bài “Khi con tu hú” tóm tắt

Tâm trạng của người chiến sĩ trong tác phẩm là niềm tin yêu, khát khao cuộc sống bên ngoài
Tâm trạng của người chiến sĩ trong tác phẩm là niềm tin yêu, khát khao cuộc sống bên ngoài

Khái quát về tác giả Tố Hữu

Về tác giả

– Tố Hữu (1906 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành

– Quê quán: Thừa Thiên Huế

– Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:

+ Ông sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng khi còn trẻ, khi ông đang học ở Huế

+ Sau cuộc cách mạng tháng 8 – 1945 ông giữ nhiều chức vụ trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, trên mặt trận Văn hóa nghệ thuật.

+ Ông được nhận giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật năm 1996

– Phong cách sáng tác: Thơ ông mang tính chất trữ tình trong chính trị xen lẫn cảm hứng lãng mạn ngọt ngào.

Hoàn cảnh sáng tác và bố cục tác phẩm “Khi con Tu hú”

Về hoàn cảnh sáng tác “Khi con Tu hú” được sáng tác vào tháng 7  – 1939 tại nhà lao Thừa Phủ, khi Tố Hữu đang bị bắt giam.

Bố cục bài thơ chia làm 02 phần:

+ Phần 1: 6 câu đầu: Khung cảnh thiên nhiên vào hè

+ Phần 2: 4 câu cuối: Tâm trạng người chiến sĩ trong tù

Khái quát Nội dung

Nội dung bài thơ thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan, niềm tin yêu vào cuộc sống cùng với niềm khao khát tự do mãnh liệt cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày.

Nghệ thuật

Bài thơ thuộc thể thơ lục bát có sự uyển chuyển. Với giọng điệu linh hoạt cùng từ ngữ tự nhiên và gần gũi với đời thường.

Soạn bài “Khi con tu hú” đầy đủ qua các câu hỏi SGK

– Câu 1 (Trang 20 SGK Ngữ văn 8, tập 2):

=> Nhan đề bài thơ: “Khi con Tu hú”  – trạng ngữ chỉ thời gian, nó là một vế phụ chỉ thời gian trong một câu, nhằm gây sự chú ý.

Nhan đề bài thơ ở đây đặc biệt là nó chỉ là một trạng ngữ bị để nửa chừng, bỏ ngỏ không trọn  vẹn một câu, nhưng mang ý nghĩa và tác dụng rất lớn nó gợi mở khiến cho người đọc tò mò muốn khám phá nội dung bài thơ.

=> Nội dung: Khi con Tu hú là bài thơ thể hiện đầy đủ và cụ thể sự chuyển mình đầy rạo rực của mùa hè, khi Tu hú gọi bầy là lúc người ta biết đất trời đang chuyển sang hè một hình ảnh đối lập với trong không gian lao tù đầy bức bối, ngột ngạt, người chiến sĩ cách mạng lắng nghe, cảm nhận sự chuyển mùa mạnh mẽ của hè, sự rạo rực của muôn loài đang rạo rực càng đốt thêm niềm cháy bỏng niềm yêu cuộc sống, khao khát tự do trong con người.

=> Tiếng Tu hú kêu có ý nghĩa tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhà thơ, nó gợi nhắc về mùa hè phóng khoáng, tưng bừng, bao cảnh sắc quyến rũ, rộn ràng hoàn toàn đối lập với cảnh tù đày chật chội.

Câu 2 (Trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 2):

Cảnh mùa hè được miêu tả trong 6 câu thơ đầu: Mùa hè rộn ràng, tràn trề nhựa sống, ngọt ngào hương vị, khoáng đạt, tự do.

Tiếng chim tu hú gọi bầy đã làm sống dậy trong lòng tác giả cảnh sắc của mùa hè rạo rực, mê say bằng những chi tiết biểu hiện vẻ đẹp, nhịp sôi động của mùa hè:

+ Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần – hương vị ngọt ngào, mời gọi.

+ Tu hú gọi bầy, vườn râm ve ngân – gợi tới những âm thanh vui nhộn, đặc trưng của mùa hè.

+ Trời xanh cao, diều sáo lộn nhào tầng không – một không gian khoáng đạt, tự do.

=> Tiếng chim tu hú gọi mùa mở ra vẻ đẹp chào mời đầy hấp dẫn của mùa hè. Mọi diễn đạt đều bắt nguồn từ cảm nhận bằng hồn thơ tinh tế, tình yêu cuộc sống, khao khát tự do mãnh liệt. Có lẽ chính vì vậy mà bức tranh thiên nhiên cũng vì thế vui nhộn, giàu sức sống.

– Câu 3 (Trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 2):

Tâm trạng người tù – chiến sĩ được thể hiện ở 4 câu thơ cuối: Bức bối, ngột ngạt, khát khao cháy bỏng muốn thoát khỏi thực tại ngục tù:

Với cách ngắt nhịp bất thường: 6/2 hay 3/3

Các động từ mạnh: dậy, đập tan, ngột, chết uất nó góp nhấn mạnh tâm trạng bức bối, ngột ngạt của người chiến sĩ.

Các từ cảm thán: ôi, thôi, làm sao thể hiện sự tiếc nuối, mong muốn thoát khỏi thực tại.

Mở đầu và cuối bài thơ đều có hình ảnh tiếng chim tu hú – âm thanh của sự sống, của tự do, tươi sáng vọng vào gọi mời người chiến sĩ.

Nhưng tâm trạng của người chiến sĩ ở đầu và cuối bài thơ khác nhau: mở đầu bài thơ là cuộc sống tự do háo hức, rộn ràng trong khi cuối bài thơ là cảm giác ngột ngạt, u uất lên tới đỉnh điểm.

Tiếng chim đầu bài thơ là sự báo hiệu của mùa hè tươi mới, rộn ràng còn cuối bài thơ tiếng chim như tô đậm thêm tâm trạng đau khổ vì cảnh bị giam hãm, mất tự do.

– Câu 4 (Trang 20 SGK Ngữ văn 8 tập 2) :

Cái hay của bài thơ thể hiện nổi bật ở cả nội dung lẫn nghệ thuật của tác phẩm.

Nội dung:

– Bức tranh thiên nhiên mùa hè sôi động đầy màu sắc cùng nhiều âm thanh và hương vị

– Thể hiện tình yêu cuộc sống, khao khát tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng khi bị giam hãm trong nhà tù thực dân.

Nghệ thuật:

– Sử dụng nhiều hình ảnh gần gũi, bình dị, thân thuộc.

– Sử dụng thể thơ lục bát, lời thơ tự nhiên, giàu cảm xúc, giản dị dễ đi vào lòng người.

– Cái tôi được thể hiện chân thực, trong sáng, hồn nhiên

– Nhịp thơ đa dạng: 4/2, 4/4, 2/4, 6/2/ 3/3.

Bài giảng đầy đủ và chi tiết nhất tại đây: Bài Giảng hay về tác phẩm Khi con tu hú (Tố Hữu)

Một số mẫu bài văn về phân tích tác phẩm “Khi con tu hú” – Tố Hữu

Đề bài 01: Hãy viết bài văn phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu.

Tố Hữu sáng tác bài thơ Khi con tu hú tại nhà lao Thừa Phủ (Huế) vào mùa hè năm 1939, sau khi bị thực dân Pháp bắt giam vì “tội” yêu nước và làm cách mạng. Bài thơ thể hiện tâm trạng xốn xang, bức bối của người thanh niên cộng sản đang bị cầm tù, khi nghe thấy tiếng chim tu hú báo hiệu mùa hè đến đã muốn phá tung xiềng xích để trở về với đồng bào, đồng chí yêu thương.

Tiếng chim tu hú gọi bầy gợi cho nhà thơ nghĩ đến khung trời lồng lộng ở bên ngoài và càng cảm thấy ngột ngạt trong xà lim chật chội, càng khao khát cháy bỏng cuộc sống tự do. Tiếng chim là yếu tố gợi mở để mạch cảm xúc trào dâng mãnh liệt:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần”

Đó là tín hiệu của mùa hè rực rỡ, của sự sống tưng bừng sinh sôi nảy nở. Tiếng chim vô tình tác động đến tâm hồn người tù trẻ tuổi. Nằm trong xà lim chật hẹp, tối tăm, cách biệt với thế giới bên ngoài, nhà thơ lắng nghe tiếng chim rộn rã, lắng nghe mọi âm thanh cuộc đời bằng tâm hồn và trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ. Một tiếng chim thôi cũng gợi trong tâm tưởng nhà thơ cả một trời thương nhớ về những mùa hè nồng nàn của quê hương.

Mùa hè là mùa của Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần dưới cái nắng vàng óng như mật của miền Trung. Những âm thanh rạo rực và hình ảnh tươi đẹp, tràn đầy sức sống của mùa hè nối nhau hiện lên trong kí ức nhà thơ:

“Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Ôi tiếng ve! Tiếng ve ngân dài suốt thời thơ ấu, suốt tuổi học trò, làm sao quên được! Tiếng ve gợi nhớ về những khu vườn râm mát bóng cây, những sân phơi bắp (ngô) đầy ắp nắng đào. Màu vàng của lúa, bắp; màu hồng của nắng; màu xanh của trời tạo nên những mảng màu sắc lung linh, rực rỡ của bức tranh quê. Thoang thoảng đâu đây hương lúa, hương thơm trái chín đầu mùa. Xa xa, tiếng chim tu hú lảnh lót, tiếng ve ngân ra rả trong vòm lá. Trên bầu trời cao rộng, những cánh diều chao lượn, tiếng sáo vi vu trong gió nam mát rượi chiều hè… Phải gắn bó, yêu mến quê hương sâu đậm đến độ nào thì nhà thơ mới hình dung ra một bức tranh mùa hè xứ Huế sống động đến như vậy. Đó là những mùa hè mà chàng thanh niên mười tám còn được sống tự do giữa gia đình, bè bạn, đồng bào, đồng chí thân thương.

Sáu câu-thơ lục bát uyển chuyển mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề nhựa sống. Nhiều âm thanh, hình ảnh tiêu biểu của mùa hè được đưa vào bài thơ: tiếng ve ngân trong vườn cây, lúa chiêm chín vàng trên cánh đồng, bầu trời cao rộng với cánh diều chao lượn, trái cây chín mọng ngọt lành…. Tiếng chim tu hú khởi đầu và bắt nhịp cho mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ màu sắc, ngạt ngào hương vị… trong cảm nhận của người tù. Đoạn thơ thể hiện khả năng cảm nhận tinh tế và khát vọng tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trẻ trung, yêu đời nhưng đang bị quân thù tước đi sự tự do.

Đang hồi tưởng về quá khứ, nhà thơ trở lại với thực tại phũ phàng của chốn lao tù:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!”

Thi hứng được khơi nguồn bắt đầu từ tiếng chim tu hú. Tiếng chim nhắc nhớ đến mùa hè và tạo nên sự xao động lớn trong tâm hồn thi sĩ. Cảm xúc cứ dâng lên từng đợt, từng đợt như sóng dậy, thôi thúc con người biết tung xiềng xích, phá tan tù ngục để trở về với cuộc sống phóng khoáng, tự do.

Dường như sức nóng của mùa hè đang rừng rực cháy trong huyết quản người thanh niên yêu nước Tố Hữu. Sức sống mãnh liệt của mùa hè chính là sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ khát khao lí tưởng cách mạng, khát khao hoạt động, cống hiến cho dân, cho nước.

Tiếng chim tu hú là tiếng gọi thôi thúc của cuộc sống đối với người chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm. Bên ngoài là tự do, phóng khoáng, còn nơi đây là tù túng, bức bối:

“Ngột làm sao, chết uất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Tâm trạng đau khổ, uất ức bật thốt thành lời thơ thống thiết. Cách ngắt nhịp bất thường kết hợp với các từ ngữ có khả năng đặc tả và những từ cảm thán như truyền đến độc giả cái cảm giác uất hận cao độ và niềm khao khát cháy bỏng muốn thoát ra khỏi cảnh tù ngục, trở về với cuộc sống tự do bên ngoài của người thanh niên yêu nước đang bị giam cầm trong lao tù đế quốc.

Câu thơ chứa đựng nỗi khắc khoải, vật vã, day dứt khôn nguôi cả về thể xác lẫn tâm hồn của nhà thơ trẻ. Trong hoàn cảnh ấy, thời khắc ấy, người cộng sản phải tự đấu tranh với bản thân để làm chủ mình, vượt lên những đắng cay nghiệt ngã của lao tù đế quốc, nuôi dưỡng ý chí, giữ vững khí tiết và tinh thần đấu tranh cách mạng. Đó là một hình thức đấu tranh tích cực mà Bác Hồ rất tâm đắc khi Người rơi vào chốn lao tù của Tưởng Giới Thạch: Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở ngoài lao. Các chiến sĩ cách mạng tiền bối trung kiên cũng đã khẳng định: Giam người khóa cả chân tay lại, Chẳng thể ngăn ta nghĩ tự do. (Xuân Thủy).

Tiếng chim tu hú cứ kêu hoài như nhắc nhở tới nghịch cảnh của nhà thơ, giục giã nhà thơ phá tung tù ngục để giành lại tự do.

Bài thơ Khi con tu hú làm theo thể thơ lục bát rất phù hợp với việc diễn tả tâm tư nhân vật. Sáu câu đầu nhịp điệu thong thả, từ ngữ trong sáng, hình ảnh tươi vui, tạo nên bức tranh mùa hè tuyệt đẹp. Bốn câu thơ sau nhịp điệu thay đổi hẳn. Câu thơ căng thẳng như chứa đựng một sức mạnh bị dồn nén chỉ chực bật tung ra. Đó là tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi hoạt động chưa được bao lâu đã lâm vào cảnh tù ngục, lúc nào cũng khao khát tự do, muốn thoát khỏi bốn bức tường xà-lim lạnh lẽo để trở về với đồng bào, đồng chí thân yêu.

Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ được tạo nên từ rung động tột đỉnh của cảm xúc kết hợp với bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật vừa chân thực vừa tinh tế. Tiếng chim tu hú chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đã làm dậy lên tất cả cảnh và tình mùa hè trong tâm tưởng nhà thơ. Người tù thấu hiểu được cảnh ngộ trớ trêu của mình trong chốn lao tù ngột ngạt, giữa lúc cuộc sống bên ngoài đang nảy nở, sinh sôi. Phải bức tung xiềng xích, phá tan những nhà ngục hữu hình và vô hình đang giam hãm cả dân tộc trong vòng nô lệ.

Bài thơ Khi con tu hú là tiếng lòng của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi tuy đang phải sống trong cảnh lao tù nhưng vẫn tràn đầy sức sống, sức trẻ, chan chứa tình yêu con người, tình yêu cuộc sống

Đề bài 02: Phân tích bài thơ Khi con tu hú 

Khi con tu hú được Tố Hữu sáng tác trong những ngày bị giam tại nhà lao Thừa phủ. Cả bài thơ vang vọng tiếng chim tu hú, đây cũng chính là âm thanh khơi mạnh nguồn cảm xúc của người tù cách mạng. Như vậy, ta có thể thấy tiếng chim tu hú có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong tác phẩm.

Ngoại trừ nhan đề bài thơ, thì tiếng chim tu hú hai lần xuất hiện trong bài thơ, mỗi lần xuất hiện, tiếng chim ấy lại khơi lên trong lòng tác giả một suy nghĩ, một cảm xúc riêng. Trước hết, tiếng chim tu hú khởi nguồn, gợi nhắc Tố Hữu về một cuộc sống ngoài kia hết sức đẹp đẽ, ngập tràn sức sống:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Tiếng chim tu hú này trước hết xuất phát từ thực tế, mỗi khi tu hú kêu tức báo hiệu một mùa trái cây đã vào vụ chín đỏ trên từng ngọn cây. Từ thực tế ấy, khi đang bị giam trong cảnh tù ngục, không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, Tố Hữu đã dùng những giác quan, sự cảm nhận của mình để cảm nhận thế giới ngoài kia. Mọi sự vật bên ngoài đang độ viên mãn căng tràn nhất: lúa chiêm đang chín, trái cây dần ngọt; màu sắc rực rỡ: xanh, vàng, nắng đào; không gian rộng rãi thoáng đại: trời xanh càng rộng càng cao. Thế giới bên ngoài được Tố Hữu tái hiện hết sức sống động, giàu sức sống, mọi vật căng đầy sức sống, tự do, tự tại, khác hẳn với cảnh tù ngục trong này của ông. Bởi vậy, ngay từ những câu thơ này ta đã phần nào thấy được niềm vui thích, hứng thú, nhưng đồng thời cũng khao khát, mong mỏi được sống một cuộc đời tự do như những sự vật ngoài kia.

Trẻ trung, yêu đời, khao khát sống và cống hiến, khiến cho nỗi mong mỏi được vượt thoát khỏi cảnh ngục tù này càng trào dâng mạnh mẽ hơn trong lòng Tố Hữu. Để khi tiếng chim tu hú một lần nữa hữu ý cất lên, khao khát đó bùng cháy dữ dội, biến thành những ước muốn cụ thể, hữu hình:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp, tan phòng hè ôi,

Ngột làm sao chết uất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu.”

Mùa hè đến mang đến sức sống, thôi thúc, giục giã người tù cách mạng đập tan phòng, chân muốn đạp đổ mọi xiềng xích để đến với thế giới tự do bên ngoài. Một tinh thần khỏe khoắn như vậy làm sao có thể cam chịu cuộc sống tù đày chật chội và ngột ngạt cho được. Lòng uất hận căm tức dâng trào trong lòng, bật lên thành lời nói: Ngột làm sao/chết uất thôi. Câu thơ ngắt nhịp 3/3, cảm xúc dồn nén bỗng chốc cuộn trào, qua đó thể hiện một ý chí mạnh mẽ kiên cường, kiên quyết không chịu đời nô lệ, phải sống một cuộc đời từ do. Mở đầu bài thơ là tiếng chim tu hú gọi bầy, mở ra không gian sống đầy ánh sáng, kết thúc bài thơ là tiếng chim tu hú cứ kêu, như lời thúc giục người chiến sĩ hãy nhanh lên đường chiến đấu.

Khi con tu hú sử dụng thể thơ lục bát thuần dân tộc, với ngôn từ giản dị, giàu cảm xúc đã cho thấy tâm hồn yêu tự do mãnh liệt của tác giả. Bức tranh chân dung tự họa của người chiến sĩ cộng sản đầy đẹp đẽ, sáng ngời, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam lúc bấy giờ.

Đề bài 03: Phân tích tác phẩm Khi con tu hú của Tố Hữu

Tố Hữu là một tác giả có vị trí đặc biệt quan trọng là một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam. Ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ và có tầm ảnh hưởng lớn. Tác phẩm “khi con tu hú” là một trong những sáng tác được đánh giá cao. Tác phẩm được ông sáng tác khi đang bị địch giam trong nhà lao Thừa Phủ. Tác phẩm diễn tả nỗi khổ của người cách mạng, càng khao khát được phục vụ cách mạng được chiến đấu người chiến sĩ càng cảm thấy bức bối uất ức khi bị giam hãm giữa bốn bức tường ngột ngạt chứng kiến thời gian cứ đằng đẵng trôi qua khi ở bên ngoài tinh thần kháng chiến đang sôi sục.

Nhan đề “khi con tu hú” của bài thơ không chỉ nói đến thời gian mà còn ẩn ý là một thời điểm bừng lên của thiên nhiên tạo vật bên cạnh đó chỉ khát khao hoạt động cách mạng của con người. Tiếng chim tu hú có tác động mạnh mẽ đến nhà thơ bởi lẽ nó báo hiệu một mùa hè đến và là biểu tượng cho sự bay nhảy được tự do , do đó có ảnh hưởng lớn đến nhà thơ khi đang bị giam cầm.

Tiếng chim tu hú vọng qua thanh sắt len lỏi vào trong tâm hồn tâm trạng buồn bã của nhà thơ:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín trái cây ngọt dần.”

Con chim tu hú đánh thức tâm hồn nhà thơ khi “lúa chiêm đang chín”còn trái cây thì “ngọt dần”. Ta thấy tác giả nói “đương chín”chứ không phải là đang chín trái cây ngọt dần chứ không phải là đã ngọt. Dường như mùa hè đang đến dần, nhà thơ muốn nó đừng trôi qua nhanh mà hãy chậm rãi nhà thơ muốn níu giữ từng chút một thời gian. Nhưng đâu chỉ có thế tiếng chim gọi lên một bầu trời tràn ngập màu sắc và âm thanh:

“Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng vàng

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.”

Giữa chốn ngục tù người chiến sĩ ấy nhớ tiếng ve ngân nhớ sân bắp phơi đầy. Đó là những hình ảnh âm thanh màu sắc của đời sống thường thật bên ngoài mà sao nhà thơ lại nhớ đến tột cùng như thế, thèm muốn được ngắm nhìn chúng đến như thế. Chắc hẳn trong chốn lao tù ấy ánh sáng thiên nhiên bầu trời thiên nhiên cũng là một điều tưởng chừng như quá xa xỉ đối với nhà thơ. Bầu trời trong xanh ấy với tiếng ve ngân còn được điểm xuyết thêm hình ảnh “đôi con diều sáo lộn nhào từng không” mang ý nghĩa biểu tượng cho sự tung hoành và khát vọng được bay bổng tự do cùng thiên nhiên đất trời. Nhà thơ phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên , hòa nhập với thiên nhiên và khát khao được sống trong thiên nhiên lắm thì nhà thơ mới có thể vẽ ra một bức tranh thiên nhiên trong trẻo tươi mới và rộn ràng đến như thế. Thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp và thơ mộng kia không phải được nhìn từ con mắt của nhà thơ mà được tưởng tượng qua hình ảnh con tu tú kêu gọi bầy. Nhà thơ đã sử dụng những giác quan để nghe ngửi và cảm nhận tất cả mọi âm thanh đường nét màu sắc của mùa hè. Chỉ bằng sáu câu thơ nhà thơ đã làm hiện lên một khung cảnh của làng quê yên bình như bao làng quê khác của Việt Nam. Nhìn thiên nhiên ấy tác giả càng thấy đau xót cho thân phận mình khi con chim ngoài trời cũng được tự do bay lượn trên bầu trời mà tại sao con người lại bị chôn vùi trong nhà lao với bốn bức tường cô độc không thể tự do vùng vẫy bên ngoài. Trong cảnh tù đày mùa của ngô lúa hay màu của trời xanh bỗng trở nên quý giá vô ngần, bởi thế những màu sắc âm thanh hết sức bình thường bỗng trở nên lung linh huyền ảo rực rỡ hẳn lên. Trẻ trung và yêu đời say mê khát khao sống khao khát được tự do. Nhà thơ đang bị đày đạo trong ngục tối nhưng tinh thần ở ngoài lao mới có cảm xúc, cảm hứng ấy.

Đoạn thơ sử dụng nghệ thuật tả cảnh rất sinh động cụ thể gợi cảm các từ ngữ lựa chọn có giá trị tạo hình. Đặc biệt phép liệt kê được vận dụng để tạo ra những ấn tượng huy hoàng về một mùa hè phong phú và khát khao của tuổi trẻ. Hình ảnh thiên nhiên mùa hè hiện lên trong tâm hồn nhà thơ trong cảnh lao tù ấy đã thể hiện khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm nén nổi. Đoạn thơ cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người chiến sĩ trẻ. Người chiến sĩ xả thân vì lí tưởng cao đẹp đó có một thế giới nội tâm rất phong phú rung động mãnh liệt đối với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó tha thiết với quê hương ruộng đồng.

Giọng thơ từ nhung nhớ tha thiết chuyển sang uất ức trong những câu thơ tiếp theo:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi

Ngột làm sao chết mất thôi

Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu.”

Mùa hè đã đến trong thiên nhiên cảnh vật và đất trời quê hương Việt Nam. Mùa hè đến dậy trong lòng bao thôi thúc giục giã. Mùa hè đất trời lại tiếp tục len lỏi vào tâm hồn nhà thơ thúc giục tinh thần thoát khỏi nhà lao ra hòa nhập với thiên nhiên đất trời bay nhảy cùng chim muông cảnh vật. Bao âm thanh giục giã khiến nhà thơ muốn “đập tan phòng” đập tan song sắt, xà lim chật chội để ra ngoài giải phóng mình. Lòng uất hận đang dâng trào khiến nhà thơ chỉ muốn thoát khỏi sự chật chội ấy để ra ngoài thiên nhiên rộng lớn. Tiếng chim tu hú tạo một nghịch trạng trong tâm hồn người chiến sĩ cộng sản. Mùa hè tràn đầy sức sống đang đến vậy mà nhà thơ lại bị giam cầm tù đầy. Ngoại cảnh tác động vào con người khiến con người bức bối ngột ngạt muốn vùng vẫy tung phá. Nhưng thực tế không thể làm được nên phải thốt lên thành lời than, đó chính là biểu hiện của niềm khao khát tự do khao khát hoạt động cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Tiếng chim tu hú kia dường như là tiếng đời tiếng cách mạng đang gọi nhà thơ giục giã lên đường kháng chiến phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Tiếng chim tu hú gọi bầy tha thiết gợi ra một không gian thế giới bao la vô cùng sinh động. Nhưng thế giới ấy càng rộng lớn bao la rực rỡ bao nhiêu càng khiến cho người tù cảm thấy chật chội khó chịu bấy nhiêu. Tiếng chim tu hú ở đầu và cuối bài thơ tuy đều biểu trưng cho tiếng gọi tha thiết của thiên nhiên mời gọi nhà thơ nhưng tâm trạng của nhà thơ khi nghe tiếng tu hú mỗi lần cất lên lại hoàn toàn khác nhau. Nếu như lúc đầu tiếng chim tu hú mở ra một khung trời thiên nhiên rộng lớn bao la với đủ màu sắc âm thanh hình ảnh của cuộc sống thường nhật khi mùa hè đến trên khắp quê hương Việt Nam nhưng tiếng chim tu hú sau đó lại khiến cho tâm trạng nhà thơ cảm thấy ngột ngạt khó chịu chỉ muốn thoát ra khỏi thế giới ngục tù ấy một cách nhanh chóng. Nhưng hiện thực lại không thể thoát khỏi chốn lao tù đã khiến tâm trạng nhà thơ càng trở nên bực dọc khó chịu.

Bài thơ được tác giả dùng những hình ảnh thơ gần gũi giản dị mà giàu sức gợi cảm ở nghệ thuật sử dụng thơ lục bát uyển chuyển tự nhiên và cả những cảm xúc thiết tha sâu lắng thể hiện nguồn sống sục sôi của người cộng sản. Bài thơ là khúc ca tâm tình tiếng gọi đàn hướng về đồng quê và bầu trời tự do với niềm khát khao cháy bỏng. Bài thơ còn là vẻ đẹp chân thực của người cộng sản luôn muốn phục vụ cộng sản phục vụ cách mạng phục vụ nhân dân đồng bào.

Đề bài 04: Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu

Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác vào tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trong bước đường hoạt động cách mạng đang bị địch bắt giam tại lao Thừa Phủ – Huế. Bài thơ phản ánh tâm trạng ngột ngạt của một người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh. Tâm trạng ấy càng trở nên bức xúc khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến với bầu trời tự do ở bên ngoài. Đặc biệt giữa không gian tự do ấy bỗng vang ngân tiếng chim tu hú gọi bầy. Với âm thanh da diết đó, nỗi ngột ngạt, u uất còn dồn nén và biến thành niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm hãm nổi:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!”

Mở đầu bài thơ, với tựa đề Khi con tu hú, tác giả muốn khẳng định đây là một thứ âm thanh mở ra mạch cảm xúc của toàn bài thơ. Tác động của âm thanh này đặt vào tâm cảnh của nhà thơ càng trở nên tha thiết và thôi thúc hướng đến tự do.

Ta biết rằng, người thanh niên cộng sản Tố Hữu dù bị tù đày, tra tấn nhưng không nản chí sờn lòng. Nhà thơ đã xác định:

“Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày.”

(Trăng trối)

Trở lại câu thơ mở đầu của bài thơ: “Khi con tu hú gọi bầy”. Đó là cái thời điểm thiết tha và thiếu thốn khi nghe con tu hú gọi bầy, tiếng gọi trở về với bạn bè, đồng đội. Tiếng chim gọi bầy càng tăng thêm nỗi cô đơn của nhà thơ giữa bốn bức tường lạnh lẽo. Tố Hữu bị bắt giam giữa lúc nhiệt tình cách mạng của tuổi thanh xuân đang sục sôi, muốn đem tất cả nhiệt huyết để cống hiến cho cách mạng.

Tiếng chim tu hú gọi bầy đã thức dậy một nỗi nhớ sâu xa trong Tố Hữu. Trong thế giới tăm tối của ngục tù, nhà thơ đã huy động nhiều giác quan để hình dung, tưởng tượng đồng quê thân thuộc ngoài kia:

“Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào.”

Một bức tranh được “vẽ” trong tâm tưởng bằng nỗi nhớ da diết. Nhịp sống của đồng quê thật rộn rã và tràn đầy sức sống. “Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”, sự vật đang vận động tiến dần đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ (đang chín, ngọt dần). Một mùa hè đã báo hiệu, một mùa hè với những cảnh vật, âm thanh, màu sắc, ánh nắng quen thuộc. Phải là một người tha thiết yêu cuộc sống, gắn bó máu thịt với quê hương mới có nỗi nhức nhối không nguôi đến như thế!

Trí tưởng tượng của nhà thơ được chắp cánh đến với bầu trời khoáng đạt:

“Trời xanh càng rộng càng cao

 Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Cũng là bầu trời xanh thân thiết của tuổi thơ với “đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Giữa khoảng trời bao la, cao, rộng vài con sáo nhào lộn như nét chấm nhỏ nhoi giữa cái mênh mông của đất trời. Hình ảnh con diều sáo lộn nhào giữa từng không cũng là niềm khát vọng được tự do của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm.

Niềm khát khao đó bị dồn nén lúc này đây đã bùng lên mãnh liệt:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Ngột làm sao, chết uất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Nhịp sống trào dâng, mời gọi, thôi thúc tràn ngập vào tận ngõ ngách tăm tối của chốn ngục tù, len lỏi vào tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi biến thành nỗi khát khao hành động: “muốn đạp tan phòng”.

Bài thơ có 10 câu, câu mở đầu và câu kết thúc là tiếng kêu của con tu hú. Âm hưởng tiếng kêu xuyên suốt toàn bài, tiếng kêu liên hồi, khắc khoải và da diết. Tiếng kêu vang vào thế giới chật chội, tăm tối của nhà lao và tâm trạng nhà thơ trở nên bực bội, ngột ngạt, đến nỗi phải kêu lên:

Ngột làm sao, chết uất thôi.

Bài thơ khép lại nhưng là nghe tiếng tu hú “cứ kêu”, kêu hoài, kêu mãi…

Bài thơ cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ gang thép đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng, và một niềm khát khao tự do cháy bỏng.

Đề Bài 05: Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu

Tố Hữu – Người cộng sản kiên trung, nhà văn hóa tài năng, cũng là “nhà thơ của cách mạng”, “nhà thơ của nhân dân”… Ông ra đi để lại cho đời một sự nghiệp văn thơ đồ sộ. Con đường thơ của ông hầu như song hành cùng con đường cách mạng. Nội dung thơ Tố Hữu được phân làm 2 mảng: trước và sau cách mạng tháng 8. Bài thơ Khi con tu hú thuộc thời kỳ đầu. Thời kỳ này người đọc bắt gặp một tâm hồn nồng nhiệt của tuổi trẻ khi gặp gỡ lý tưởng cách mạng và lời tâm niệm nguyện trung thành với lý tưởng khi bị tù đày.

Bài thơ Khi con tu hú được Tố Hữu sáng tác tháng 7 năm 1939 tại nhà lao Thừa Phủ (Huế) khi tác giả bị bắt giam vào đây chưa lâu, được in trong tập thơ “Từ Ấy”, phần “Xiềng xích”. Mười sáu tuổi tìm thấy con đường cách mạng như tìm thấy lý tưởng cho cuộc sống của mình, Tố Hữu đã vỡ òa thốt lên:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…” (Từ ấy)

Chàng thanh niên Tố Hữu lúc đó cảm thấy sung sướng vô biên vì bắt gặp lý tưởng cộng sản, say mê hoạt động cách mạng với một tâm hồn bồng bột, lãng mạn. Đang say mê lý tưởng, yêu đời và hoạt động cách mạng với niềm vui phơi phới như thế, bỗng bị nhốt trong phòng giam bưng bít, cách biệt hoàn toàn với cuộc sống ở bên ngoài, người chiến sĩ trẻ ấy cảm thấy ngột ngạt không chịu nổi. Và bài thơ Khi con tu hú đã ra đời trong dòng cảm xúc đó.

Có thể nói rằng, sự độc đáo của bài thơ này nằm ngay nhan đề của tác phẩm. “Khi con tu hú” – là một mệnh đề chỉ thời gian, chỉ là một vế phụ của một câu trọn ý, nội dung còn bỏ ngỏ. Nhan đề đã gây được sự chú ý, gợi mở mạch cảm xúc của toàn bài, gợi ra nhiều hướng suy nghĩ, giúp người đọc liên tưởng đến nhiều vấn đề. Nội dung của toàn bài được tóm gọn trong một câu văn ngắn: Khi con tu hú gọi bầy là khi mùa hè đến, người tù cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt trong phòng giam chật chội, càng thèm khát cháy bỏng cuộc sống tự do tưng bừng ở bên ngoài.

Tác phẩm được nhà thơ viết theo thể thơ lục bát, uyển chuyển, nhịp nhàng. Bài thơ như một bức tranh toàn bích, cân đối gồm 2 đoạn: 6 câu thơ đầu: tả cảnh (trời đất vào hè), và 4 câu thơ cuối: tả tình (tâm trạng người tù), cả hai đoạn thơ đều rất truyền cảm.

Tiếng chim tu hú đã làm thức dậy trong tâm hồn người chiến sĩ trẻ trong tù một khung cảnh mùa hè tươi đẹp, sống động:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Sáu câu thơ lục bát thanh thoát mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề nhựa sống. Qua trí tưởng tượng của tác giả, người đọc như tận mắt được nhìn thấy một bức tranh mùa hè có âm thanh rộn ràng, sinh động của tiếng chim tu hú, tiếng ve ran trong vườn râm; cảm nhận được vị ngọt của lúa chín, của trái cây; được hòa mình trong một khung cảnh tươi vui, rộn rã của màu vàng của bắp, màu hồng đào của nắng, màu xanh của trời; được chiêm ngưỡng một bầu trời cao rộng với đôi con diều sáo đang nhào lộn thật vui mắt… Có thể nói, bức tranh mùa hè qua trí tưởng tượng của nhà thơ thật tươi đẹp, thanh bình, êm ả, tràn trề nhựa sống. Tiếng chim tu hú đã mở ra một bức tranh mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị. Hơn nữa, bức tranh ấy không phải là một bức tranh tĩnh mà một bức tranh động, chúng ta như cảm nhận được sự chuyển động của lúa đang chín, của trái cây đang chín mọng ngọt dần, của diều sáo đang nhào lộn trên không trung.

Ở trong phòng giam chật hẹp, để cảm nhận được một bức tranh tươi đẹp như vậy, chỉ qua tiếng chim tu hú, người chiến sĩ Tố Hữu phải là một người có tâm hồn tinh tế, lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống. Tất cả những điều đó khẳng định khát khao tự do mãnh liệt, cháy bỏng của người tù cách mạng.

Bức tranh mùa hè tươi đẹp khép lại, mở ra bức tranh tâm trạng của người tù cách mạng ở bốn câu thơ cuối:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Ngột làm sao, chết uất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Đoạn thơ với sự ngắt nhịp bất thường: 6/2 (câu 8); 3/3 (câu 9), với cách dùng những từ ngữ mạnh (đập tan phòng, chết uất), những thán từ (ôi, thôi, làm sao), câu cảm thán (Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!) đã thể hiện thành công tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng. Đó là tâm trạng đau khổ, uất ức, ngột ngạt, và tâm trạng đó được biểu hiện trực tiếp qua động từ muốn. Bốn câu thơ đã truyền đến độc giả cái cảm giác ngột ngạt cao độ, niềm khao khát cháy bỏng muốn thỏi khỏi cảnh tù ngục, trở về với cuộc sống tự do bên ngoài.

Như vậy, chúng ta thấy đối lập giữa cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy sức sống là tâm trạng dằn vặt, u uất của người tù cách mạng. Cảnh thiên nhiên ngoài kia càng tươi đẹp bao nhiêu thì trong tù tâm trạng người chiến sĩ cách mạng càng bức bối, khát khao tự do mãnh liệt bấy nhiêu.

Mở đầu và kết thúc bài thơ đều là hình ảnh tiếng chim tu hú. Nếu như lần một (câu đầu) tiếng chim tu hú là tiếng gọi vào hè náo nức. Gợi ra cảnh mùa hè đẹp đẽ, tràn đầy nhựa sống, khơi gợi khát vọng tự do, thì ở lần hai (câu cuối) tiếng chim khiến nhà thơ bực bội, khổ đau day dứt và muốn hành động để đập tan cái tù túng ngột ngạt để được tự do. Tuy nhiên, tiếng chim dù ở câu đầu hay câu cuối đều giống như tiếng gọi thiết tha của tự do, của thế giới, của cuộc sống tươi đẹp đầy quyến rũ.

Ở trong tù, người chiến sĩ cách mạng bị tách biệt hẳn với cuộc sống bên ngoài về mọi mặt, trừ âm thanh. Và vì thế cuộc sống như chỉ dồn vào phạm vi âm thanh. Trong bài thơ Tâm tư trong tù tác giả từng viết:

“Cô đơn thay là cảnh thân tù

Tai mở rộng mà lòng nghe rạo rực

Ta lắng nghe tiếng đời lăn náo nức

Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu”.

Âm thanh là sợi dây liên hệ duy nhất với cuộc đời của người tù. Bài thơ mở đầu là tiếng chim tu hú và kết thúc cũng là tiếng chim tu hú. Nó không chỉ là tiếng chim báo hiệu mùa hè mà còn là một âm thanh nhức nhối, thúc giục hành động. Từ đó tâm trạng của người chiến sĩ cũng thay đổi theo, từ chỗ chỗ khát khao cảm thụ thiên nhiên đến khát khao hành động.

Bài thơ kết thúc, nhưng mở ra trong lòng người đọc biết bao dư âm và suy nghĩ về cuộc sống.

Qua tất cả những gì chúng tôi tổng hợp ở trên về nội dung soạn bài về tác phẩm Khi con tu hú của Tố Hữu hy vọng bạn có được nhiều tài liệu hơn cho việc học tập của mình. Khi con tu hú là bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt nhưng mang đậm giá trị và ý nghĩa về sự tin yêu cuộc sống, khát vọng tự do và vươn lên.

Trả lời