Soạn bài, phân tích bài thơ Qua đèo ngang – Ngữ văn 7

Qua đèo Ngang là bài thơ Đường luật nổi tiếng trong làng thơ Việt Nam. Cái tên Bà Huyện Thanh Quan không còn lạ lẫm với người yêu văn thơ, học trò bao thế hệ. Bởi vì cái tên ấy xuất hiện với những tuyệt phẩm thơ ca Việt Nam và cả trong chương trình văn học trung học, phổ thông. Giáo sư Thanh Lãng đã từng nói “Thơ Bà Huyện Thanh Quan đầy chất thơ. Lời thơ của bà điêu luyện, gọt giũa, đẹp như một bức tranh cổ”. Thật đúng như vậy! Đọc bài thơ Qua đèo Ngang, ai cũng tấm tắc vì câu thơ hay quá, dùng từ, phối thơ sao mà kì diệu đến vậy. Bài thơ Qua đèo Ngang xuất hiện trong chương trình Ngữ văn thật là một điều đúng đắn. 

Sau đây, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về tác phẩm này, soạn bài, phân tích và cảm nhận Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.

Soạn bài và phân tích bài thơ Qua đèo Ngang
Soạn bài và phân tích bài thơ Qua đèo Ngang

Soạn bài Qua đèo ngang chi tiết siêu ngắn

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà, mỏi miệng cái da da.

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta”.

(Bà Huyện Thanh Quan)

Bố cục bài thơ: Bố cục bài thơ Qua đèo Ngang có bố cục của thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật: đề-thực-luận-kết

– 2 câu đề : cái nhìn chung về cảnh vật. 

– 2 câu thực : miêu tả cuộc sống con người. 

– 2 câu luận : tâm trạng tác giả. 

– 2 câu kết : nỗi cô đơn lên cao.

Câu 1 (trang 103 SGK Ngữ Văn 7)

Căn cứ vào lời giới thiệu về thể thất ngôn bát cú Đường luật ở chú thích, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần, phép đối giữa câu 3, câu 4, câu 5 với câu 6.

– Qua Đèo Ngang thuộc thể loại Thất ngôn bát cú Đường luật.

– Số câu có 8 câu (bát cú), mỗi câu 7 chữ (thất ngôn).

– Cách gieo vần: cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 tất cả đều vần bằng và gieo một vần duy nhất gọi là độc vần. (tà-hoa-nhà-gia-ta)-vần a. 

– Trong câu có 2 cặp câu đối nhau: Câu 3 và 4 đối nhau, câu 5 và câu 6 đối nhau.

Câu 2 (trang 103 SGK Ngữ Văn 7)

Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm nào trong ngày? Thời điểm đó có lợi thế gì trong việc bộc lộ tâm trạng của tác giả?

– Cảnh tượng Đèo Ngang được nêu trong bài: thời điểm chiều tà (xế chiều)

– Thời điểm này là thời điểm ngày sắp tàn. Đó chính là thời điểm dễ gợi nỗi buồn cho lòng người, nhất là đối với phụ nữ xa nhà. Ngay ở dân ca Việt Nam từ ngàn xưa cũng từng cho thấy:

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều”. 

“Lẳng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau” 

=> Thời điểm xế tà là lợi thế để tác giả bộc lộ tâm trạng cô đơn của mình lúc qua đèo.

Câu 3 (trang 103 SGK Ngữ Văn 7)

Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết gì?

– Cảnh vật gồm có: cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, có tiếng chim cuốc và chim đa đa, có vài chú tiều phu

– Cảnh Đèo Ngang rậm rạp, um tùm, hoang vắng: cỏ cây chen đá

– Con người xuất hiện thưa thớt, ít ỏi: lác đác chợ mấy nhà, tiều vài chú

– Tiếng kêu quốc quốc, gia gia khắc khoải càng gợi lên cảm giác buồn giữa không gian hoang vắng

=> Nhà thơ khéo dùng các từ láy lom khom, lác đác, các từ tượng thanh quốc quốc, gia gia đặc biệt gợi hình và gợi cảm, càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

Câu 4 (trang 103 SGK Ngữ Văn 7)

Hãy nhận xét về cảnh tượng đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan.

Cảnh tượng ở Đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan là:  

– Cỏ cây um tùm, cảnh hoang vắng, thưa thớt bóng người.

– Tiếng chim quốc quốc kêu thảm thiết càng làm tăng thêm nỗi buồn và tieengs kêu ấy làm nổi bật lên cái tĩnh lặng của không gian. 

=> Cảnh vật hoang sơ, thưa thớt càng làm nỗi nhớ quê hương dâng lên và làm nỗi buồn, nỗi cô đơn, âm thầm của tác giả khi đối diện với thiên nhiên rộng lớn.

Câu 5 (trang 103 SGK Ngữ Văn 7)

Hãy hình dung tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang. Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức: mượn cảnh nói tình và trực tiếp tả tình như thế nào?

Khi đọc tác phẩm Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan thì nổi bật là tâm trạng cô đơn, nhớ nhà, nhớ nước của tác giả. 

– Tác giả mượn cảnh vật để giãi bày tâm trạng của mình: 

+ Gia gia – là tiếng kêu gia gia nhưng nó cũng có nghĩa là gia đình (nhà). Nỗi nhớ nhà đang trào dâng trong lòng người lữ thứ, trong cảnh chiều hôm mọi người tìm về với gia đình, với sự sum họp còn bà thì lại đang dừng chân ở nơi hiu quạnh, hoang sơ. 

+ Mượn tiếng chim quốc quốc để gợi nhớ nước nhà. Nó thể hiện sự nhớ quê hương, đất nước của nhà thơ nữ Bắc Hà. Nói lên tâm trạng nhớ nhà, thương nước – nhà xa, nước mất – triều Lê đã mất của nữ thi sĩ.

– Câu thơ cuối “Một mảnh tình riêng ta với ta” biểu cảm trực nỗi buồn, nỗi cô đơn vời vợi, hướng nội của Bà Huyện Thanh Quan. 

=> Tâm trạng của tác giả: buồn, cô đơn và hoài niệm.

Câu 6 (trang 103 SGK Ngữ Văn 7)

Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh: trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang thì có gì khác với cách nói một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp.

– Giữa cảnh trời, non, nước và một mảnh tình riêng có quan hệ đối lập với nhau. Cảnh càng rộng lớn bao nhiêu thì tình càng cô đơn bấy nhiêu, con người càng nhỏ bé giữa khung cảnh thiên nhiên bao la.

=> Như thế càng làm tăng thêm nỗi cô đơn của tác giả.

Luyện tập 

Tìm hàm nghĩa của cụm từ Ta với ta.

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta. 

Khi Bà Huyện Thanh Quan bước tới Đèo Ngang thì trên đầu là bầu trời cao lồng lộng, sau lưng là núi non trùng điệp, cảnh tượng hiện ra trước mắt heo hút, vắng vẻ đến cô quạnh. Trong không gian vô hạn của vũ trụ ấy nổi bật với hữu hạn, nhỏ bé, mong manh của người phụ nữ. 

– Ta với ta: Thể hiện nỗi cơ đơn vời vợi của tác giả, mong muốn tìm người để chia sẻ nhưng lại gặp chính sự cô đơn của mình. Ta ở đây cũng chỉ một người, sự cô đơn đến tuyệt đối. Sau câu thơ là sự trống vắng đến mênh mông. Nàng giữ nỗi cô đơn kiêu hãnh thế Cầm chặt vần thơ đứng giữa không gian.

Qua đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

Đọc hiểu bài thơ Qua đèo Ngang
Đọc hiểu bài thơ Qua đèo Ngang

Tác giả Bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848). Tên thật là Nguyễn Thị Hinh, là một nhà thơ nổi tiếng của thời văn học trung đại.

Bà Huyện Thanh Quan sinh ra tại mảnh đất Tây Hồ, là một phụ nữ tài giỏi nên được cử làm chức quan dạy học cho những cung phi công chúa trong cung.

Bà Huyện Thanh Quan đã để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Qua đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Chiều hôm nhớ nhà, Tức cảnh chiều thu.

Tác phẩm Qua đèo Ngang

Hoàn cảnh sáng tác:

Tác phẩm Qua đèo Ngang được viết khi Bà Huyện Thanh Quan vào Phú Xuân-Huế để nhận chức quan. Đây cũng là lần đầu tiên nhà thơ bước tới Đèo Ngang. 

Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.

Bố cục: 4 phần (đề-thực-luận-kết)

2 câu đề: mở ý

2 câu thực: bàn luận, nhận xét

2 câu luận: miêu tả cụ thể cảnh và người

2 câu kết: khép lại mạch ý của bài thơ, đó là nỗi niềm của tác giả.

Nội dung bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
Nội dung bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Đọc hiểu văn bản

Hai câu đề

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

Thời điểm: bóng xế tà, có nghĩa là ánh nắng chiều đã sắp tắt, còn le lói vài chút ánh sáng. 

=> Ánh nắng nhạt của buổi chiều muộn. Gợi lên nỗi buồn man mác.

Cảnh: cỏ cây chen đá >< lá chen hoa. Sử dụng đẹp từ “chen” cùng thủ pháp tiểu đối. Cảnh vật có cây cối um tùm, nhưng hoang sơ.

=> Gợi nên cảnh tượng hoang sơ, rậm rạp, không gian hoang vắng gợi nỗi buồn.

Hai câu thực

Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

– Sử dụng từ láy tượng hình:

+ Lom khom: gợi dáng vẻ vất vả, nhỏ bé của con người.

+ Lác đác, vài: gợi hình ảnh ít ỏi, vắng vẻ, thư thớt.

– Sử dụng thủ pháp đảo ngữ:

+ Lom khom-tiều vài chú: lẽ ra là vài chú tiều lom khom dưới núi.

+ Lác đác-chợ mấy nhà: lẽ ra là mấy nhà chợ lác đác bên sông. 

=> Nhấn mạnh dáng vẻ nhỏ bé, tội nghiệp của con người và sự thưa thớt của cảnh chợ ven sông.

– Đảo trật tự từ:

+ Tiều vài chú -> Vài chú tiều

+ Chợ mấy nhà -> mấy nhà chợ

=> Đảo từ trong cụm danh từ + từ chỉ số lượng để gợi lên một không gian lẻ loi, trống vắng, ít ỏi. 

Tất cả đều hiện lên cảnh với sự sống ít hỏi, hoang sơ còn tình thì là nỗi buồn man mác của tác giả.

Hai câu luận

Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà, mỏi miệng cái da da.

Sử dụng nghệ thật đối:

+ Nhớ nhà >< đau lòng

+ con quốc quốc >< cái gia gia 

+ Đối trong thanh điệu: TT BB BTT >< BB TT TBB

=> làm nổi bật trạng thái, cảm xúc và tạo nhạc điệu cho bài thơ.

– Sử dụng nghệ thuật ẩn dụ mượn tiếng chim để gợi tả lòng người.

=> Thể hiện nỗi lòng yêu nước, thương nhà của tác giả và nỗi buồn, cô đơn của tác giả.

Hai câu kết

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta”.

Cảnh đèo Ngang với trời, non, nước đối lập với mảnh tình riêng ta với ta.

Cảnh thì bao la bát ngát mênh mông, rộng lớn, trùng trung điệp điệp. Gợi nên không gian rộng lớn mà tĩnh lặng. Còn tình của nhà thơ thì rất đỗi cô đơn, hình tượng nhỏ bé giữa thiên nhiên.

Tổng kết

Ý nghĩa

Bài thơ thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà và nỗi buồn thầm kín của tác giả. Cùng với sự hoài cổ của nhà thơ trước cảnh vật đèo ngang.

Giá trị nội dung

Cảnh đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng bóng người nhưng vẫn còn rất hoang sơ.

Giá trị nghệ thuật

– Sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật điêu luyện.

– Sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

– Sử dụng phép đối hình ảnh, láy và đảo ngữ. 

– Lời thơ trang nhã, âm điệu trầm lắng.

Xem bài giảng văn Qua đèo Ngang: 

Phân tích bài thơ Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan 

Tuyển tập phân tích thơ Qua đèo Ngang hay nhất

Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang – mẫu 1

Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của Bà huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó?

Có nơi đâu đẹp tuyệt vời

Như sông như núi, như người Việt Nam

Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hoà sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Nhưng đồng thời, cảnh vật cũng sẽ nhuốm màu ảm đạm, thê lương dưới ánh mắt của các nhà thơ mang một tâm sự u hoài khi sáng tác một bài thơ tức cảnh. Vì thế, đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Câu thơ thật thích hợp khi ta liên tưởng đến Bà huyện Thanh Quan với bài thơ Qua đèo Ngang.

Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của Bà huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó?

Chỉ mới đọc hai câu đầu của bài thơ thôi là ta đã nhận ngay ra một nỗi buồn xa vắng.

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Câu thơ xuất hiện cụm từ bóng xế tà và sự hiện diện của điệp từ chen cùng cách gieo vần lưng lá, đá đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:

Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau

Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ Qua đèo Ngang, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật ở Hoành Sơn. Cảnh vật đã buồn lại trống vắng hơn bởi điệp từ chen ở câu thứ hai. Nó làm cho người đọc thơ bỗng cảm nhận được sự hoang vắng của đèo Ngang lúc chiều tà, bóng xế mặc dù nơi đây rất đẹp: có cỏ cây, đá, lá, hoa. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt để tìm kiếm một chút gì gọi là sự sống linh động. Và kìa, phía xa xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn. Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ vài, mấy như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.

Từ ghép đau lòng, mỏi miệng khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà huyện Thanh Quan hồi đó?

Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của Bà huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái. Vũ trụ bao la quá! Con người cô đơn quá! Tất cả lại được diễn tả dưới ngòi bút tài hoa của người nữ sĩ nên bài thơ là bức tranh đặc sắc. Từ ta với. ta như một minh chứng cho nghệ thuật điêu luyện trong sáng tác thơ ca của Bà huyện Thanh Quan. Bởi vì cũng ta với ta nhưng nhà thơ Nguyễn Khuyến lại nói:

“Bác đến chơi đây ta với ta” lại là sự kết hợp của hai người: tuy hai mà một, tuy một mà hai. Còn bà Huyện lại:

“Một mảnh tình riêng ta với ta” đã tô đậm thêm sự lẻ loi, đơn chiếc của mình. Qua câu thơ, ta như cảm nhận sâu sắc hơn nỗi niềm tâm sự của tác giả trước cảnh tình quê hương.

Phân tích bài thơ rồi, em hiểu sâu sắc hơn, thấm thía hơn tình cảm của một nhà thơ nữ trong xã hội thời xưa, giúp em thêm yêu quý đất nước và con người Việt Nam. Em cảm thấy vững vàng trong tư tưởng và có những suy nghĩ tích cực hơn góp phần xây dựng quê hương đất nước Việt Nam thêm giàu đẹp, để giữ mãi được những dấu tích mà người xưa để lại như gửi gắm, nhắc nhở và trao gửi cho chúng em.

Từ xưa đến nay, có nhiều nhà thơ tả cảnh đèo Ngang nhưng không ai thành công bằng Bà huyện Thanh Quan vì trong tác phẩm của bà có cả tâm hồn, tình cảm, nỗi lòng và tài năng của một cây bút tuyệt vời. Cả bài thơ được gieo vần “a” như chính tâm sự hoài cổ của tác giả. Chúng ta không tìm thấy dù chỉ một chút gọi là sự ồn ào trong cách miêu tả. Tất cả chỉ là sự trầm lắng, mênh mang như chính tâm sự của tác giả.

Lời thơ nghe xao xuyến, bồi hồi làm cho người đọc xúc động cũng chính là những cảm xúc sâu lắng của Bà huyện Thanh Quan khi đặt chân lên đèo Ngang trong khung cảnh miền núi khi hoàng hôn buông xuống. Cũng những cảm xúc ấy, ta sẽ gặp lại khi đọc bài Chiều hôm nhớ nhà của bà với câu:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống dồn.

Để tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ xưa đã cho ta những phút giây có được tình cảm tốt đẹp xuất phát từ đáy tâm hồn, từ sự rung cảm thật sự, người đời đã đặt một tên làng, một tên đường: Bà huyện Thanh Quan để mãi mãi ghi nhớ tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của người,nữ sĩ đối với non sông, đất nước một thời đã qua.

Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang – mẫu 2

Tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống trong nửa đầu thế kỷ 19. Quê ở làng Nghi Tàm, ven Hồ Tây, kinh thành Thăng Long. Bà xuất thân trong một gia đình quan lại, có nhan sắc, có học, có tài thơ Nôm, giỏi nữ công gia chánh – bà được vua Minh Mệnh vời vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập”. Chồng bà là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi bà là Bà huyện Thanh Quan.

Bà chỉ còn để lại 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật: Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà, Thăng Long thành hoài cổ, Chùa Trấn Bắc, Chơi đài Khán Xuân Trấn Võ, Tức cảnh chiều thu.

Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện.

Trên đường vào Phú Xuân…, bước tới Đèo Ngang lúc chiều ta, cảm xúc dâng trào lòng người, Bà huyện Thanh Quan sáng tác bài Qua Đèo Ngang. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhà của người lữ khách – nữ sĩ.

Lần đầu nữ sĩ “bước tới Đèo Ngang”, đứng dưới chân con đèo “đệ nhất hùng quan” này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng bình, vào thời điểm “bóng xế tà”, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã “tà”, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm “tà” cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoa… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ “chen”, vần lưng: “đá” – “lá”, vần chân: “tà” – “hoa”, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng.

Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất thú vị:

Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiểu phu, nhưng chỉ có “tiều vài chú”. Hoạt động là “lom khom” vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ trong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. chỉ mấy cái lều chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi “chợ mấy nhà” để gieo vần mà thôi: “tà” – “hoa” – “nhà”. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà.

Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim rừng: chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ. Phép đối và đảo ngữ vận dụng rất tài tình:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Nghe tiếng chim rừng mà “nhớ nước đau lòng”, mà “thương nhà mỏi miệng” nỗi buồn thấm thía vào 9 tầng sâu cõi lòng, toả rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương. Sắc điệu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một nữ sĩ nên nỗi “nhớ nước”, nhớ kinh kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhớ chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết!

Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng”, của “ta” với “ta” đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khác khi đứng trên cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trạng nhớ quê, nhớ nhà:

Dừng chân đứng lại trời non nước,

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Qua Đèo Ngang là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới thiên nhiên kỳ thú của Đèo Ngang như hiển hiện qua dòng thơ. Cảnh sắc hữu tình thấm một nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phép đối và đảo ngữ có giá trị thẩm mỹ trong nét vẽ tạo hình đầy khám phá. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình chan hoà với tình yêu quê hương đất nước đậm đà qua một hồn thơ trang nhã. Bài thơ Qua Đèo Ngang là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi – bài thơ non nước.

Cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang 

Cảm nhận sau khi đọc bài thơ Qua đèo Ngang
Cảm nhận sau khi đọc bài thơ Qua đèo Ngang

Trong dòng văn thơ cổ Việt Nam có 2 nữ thi sĩ được nhiều người biết đến đó là Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Nếu như thơ văn của Hồ Xuân Hương sắc sảo, góc cạnh thì phong cách thơ của Bà huyện Thanh Quan lại trầm lắng, sâu kín, hoài cảm…

Chẳng vậy mà khi đọc bài thơ Qua đèo Ngang người đọc có thể thấu hiểu bức tranh vịnh cảnh ngụ tình sâu sắc, kín đáo của nhà thơ.

Nhà thơ mở đầu bài thơ bằng việc tả cảnh đèo nhìn từ trên cao. Khi bóng chiều đã xế, có đá núi, cây rừng, có bóng tiều phu di động, có những mái nhà ven sông… mà sao heo hút, đìu hiu đến nao lòng.

Bước tới đèo ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa…

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Cảnh gợi lên trong tâm hồn tình cảm của con người giọt buồn, giọt nhớ…. Trời đã xế chiều, bóng đã dần tàn… cảnh tượng ấy rất phù hợp với tâm trạng của Bà huyện Thanh Quan lúc này.. Đó là nỗi u hoài, gợi buồn trước sự đổi thay của xã hội. Thế nên nhà thơ Nguyễn Du cũng đã nói:

Cảnh nào cảnh chẳng gieo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Cảnh vật ở đây cũng thật sinh động đấy: Có cả cỏ với cây điểm thêm lá và hoa nhưng tất cả lại được hiển hiện trong hoạt động “chen chúc”. Đứng trước cảnh tượng đó khiến cho con người càng gợi lên sự hoang mang, khiếp hãi. Cảnh vật thì bao la làm cho tâm hồn con người đã hiu quạnh, đơn chiếc tăng thêm sự cô đơn, vắng lặng gần như hoàn toàn trống trãi. Nhà thơ quan sát tổng thể cảnh nơi đây. Con người xuất hiện. Nhưng con người càng tô đậm thêm sự buồn vắng. Chính cảnh tượng ấy càng tạo cho nhà thơ những cảm giác hiu quạnh, tẻ nhạt, trống trải.

Tức cảnh sinh tình:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Nỗi nhớ thương, đau đớn đến tận cùng của lòng người với nhà, với nước, với thân phận cô đơn của mình lại được cộng hưởng bởi những âm vang trong tiếng kêu khắc khoải không dứt của chim cuốc giữa đỉnh cao chon von, nhìn lên chỉ thấy trời cao, nhìn xa chỉ thấy mây nước vời vợi…

Nhà thơ đã lắng nghe âm thanh của cảnh Đèo Ngang. Nhưng đó không phải là tiếng kêu của loài chim cuốc, chim đa đa. Mà nói cho đúng đó chính là tiếng lòng của nhà thơ. Nhà thơ mượn hình ảnh loài chim cuốc muốn gợi sự tiếc nuối về quá khứ, triều đại nhà Lê thời kỳ vàng son, hưng thịnh nay không còn nữa. Gia tộc của nhà thơ vốn trung thành với nhà Lê nhưng không thể nào theo một chế độ đã thối nát. Vả lại đây là lần đầu tiên có lẽ nhà thơ xa nhà nên “cái gia gia” gợi nỗi thuỷ chung, thương nhớ quê nhà. Cảnh vật vắng lặng, đơn chiếc, xót xa, buồn bã. Càng làm cho nhà thơ mỗi lúc nỗi buồn hoài cảm càng tăng.

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Cả thân xác lẫn tâm linh của nhà thơ hoàn toàn tĩnh lặng. Nhà thơ cảm nhận thế giới thiên nhiên nơi đây thật rộng khoáng, bao la. Trong khi đó, con người chỉ là “một mảnh tình riêng”. Con người mang tâm trạng cô đơn, trống vắng hoàn toàn. Thiên nhiên với con người hoàn toàn đối lập với nhau càng làm nổi bật tâm trạng cô đơn, phủ nhận thực tại của nhà thơ.

Qua đèo Ngang là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Với cách sử dụng ngôn từ trang nhã nhưng rất điêu luyện đã giúp người đọc thấy được bức tranh vịnh cảnh ngụ tình sâu kín. Cảnh Đèo Ngang thật buồn vắng phù hợp với tâm trạng con người cô đơn hoài cảm. Từ bài thơ, cảm thụ tâm cảm của nhà thơ, ta càng cảm thông nỗi lòng của tác giả và kính phục tài năng thi ca của Bà huyện Thanh Quan.

Nội dung về bài thơ Qua đèo Ngang mà lessonopoly chia sẻ hy vọng đã giúp các em học sinh và các bạn hiểu thêm về nội dung cũng như giá trị của bài thơ nổi tiếng này. Thơ ca luôn khơi gợi cảm xúc và rung cảm con người, bởi vậy mà thi ca Việt Nam luôn không ngừng phát triển, văn học cũng vậy. Mong rằng các em có thêm được tình cảm với thơ ca Việt Nam.

Trả lời